THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

Tháng Sáu 18, 2012 lúc 5:57 chiều | Posted in CHIA SẺ TÀI LIỆU | Để lại bình luận

Nguyễn Thị Oanh

Nguyễn Tuấn Dương

1. Khái quát về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp

1.1. Khái quát về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Kể từ khi tồn tại nền sản xuất xã hội, giữa các hoạt động kinh tế và xã hội đã luôn có những mối quan hệ căng thẳng giữa nhu cầu sản xuất và khả năng gánh chịu những nguy cơ nảy sinh từ việc sản xuất. Đây cũng chính là căn nguyên của mối quan tâm đến trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp về sau.

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TNXH của doanh nghiệp. Khái niệm TNXH của doanh nghiệp được nhà kinh tế học người Mỹ Howard R. Bowen (1908 –1989) định nghĩa lần đầu tiên vào năm 1953, trong chuyên đề “Trách nhiệm xã hội của những nhà kinh doanh” là “những nghĩa vụ phù hợp với mục tiêu và giá trị của xã hội mà nhà kinh doanh phải thực hiện khi theo đuổi chính sách và đưa ra quyết định cho hoạt động kinh doanh của mình.”[19]

Theo Hội đồng Kinh doanh Thế giới về Phát triển bền vững (World Business Council for Sustainable Development) vào năm 1998 định nghĩa “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội.”[21]

Như vậy, dựa trên các khái niệm đã đưa ra, có thể thấy TNXH của doanh nghiệp đề cập đến cách thức ứng xử của doanh nghiệp đối với các đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động kinh doanh gồm mối quan hệ với chính phủ, cổ đông, người lao động (NLĐ), khách hàng cho đến cộng đồng xã hội.

Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện thông qua trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn, cụ thể như sau:

Trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là việc phân bổ các nguồn lực hợp lý để sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng của xã hội và thu về lợi nhuận tối ưu cho doanh nghiệp. Trách nhiệm kinh tế đảm bảo sự tồn tại của doanh nghiệp và là cơ sở ý thức của các trách nhiệm còn lại[11].

Trách nhiệm pháp lý đòi hỏi doanh nghiệp tuân thủ đầy đủ các quy định của luật pháp trong quá trình hoạt động kinh doanh [11].

Trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp là những quy tắc, giá trị xã hội mong đợi nhưng chưa được thể chế hoá vào văn bản luật. Trách nhiệm đạo đức thường được thể hiện thông qua những nguyên tắc và giá trị đạo đức được trình bày trong sứ mệnh và chiến lược của doanh nghiệp[11].

Trách nhiệm nhân văn của doanh nghiệp là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự mong đợi của xã hội, liên quan đến những đóng góp cho cộng đồng và xã hội, nhằm san sẻ bớt gánh nặng cho chính phủ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho xã hội. Đây là trách nhiệm do doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu doanh nghiệp không thực hiện TNXH đến mức độ này, họ vẫn được xem là đã đáp ứng đủ các chuẩn mực xã hội mong muốn[11].

1.2. Khái quát về sự phát triển bền vững của doanh nghiệp

Ngày nay, doanh nghiệp không chỉ chạy theo mục tiêu lợi nhuận mà còn quan tâm đến những nguyên tắc về sự phát triển bền vững. Như vậy, có thể hiểu sự phát triển bền vững của doanh nghiệp là sự phát triển trong đó việc thực thi các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp vừa thoả mãn được mục tiêu của doanh nghiệp và các đối tượng hữu quan, vừa duy trì và thúc đẩy sự phát triển các nguồn tài nguyên con người và thiên nhiên[20].

Sự phát triển bền vững của một doanh nghiệp được đánh giá trên ba chiều kích: phát triển kinh tế – phát triển môi trường – phát triển xã hội.

Phát triển bền vững về mặt kinh tế: doanh nghiệp có  tốc độ tăng trưởng các chỉ tiêu tài chính ổn định, thực hiện tốt các nghĩa vụ pháp lý về thuế, chống tham nhũng, hối lộ, bảo vệ và phát triển thương hiệu.

Phát triển bền vững về mặt môi trường: doanh nghiệp quan tâm đến sự cân bằng môi trường sinh thái và sự ổn định nguồn tài nguyên, đảm bảo điều kiện tái sản xuất của tự nhiên.

Phát triển bền vững về mặt xã hội: doanh nghiệp quan tâm đến sự hoà thuận và các mối quan hệ xã hội, cách ứng xử với các đối tượng hữu quan là NLĐ và cộng đồng. Đây là yếu tố cuối cùng đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Ba yếu tố về kinh tế – môi trường – xã hội kết hợp với nhau tạo thế “kiềng ba chân” ổn định và bền vững cho doanh nghiệp phát triển. Trong khuôn khổ bài viết này, nhóm tác giả sẽ phân tích tình hình thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với NLĐ vì sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

2. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động

Hiện nay, trong giai đoạn cạnh tranh và phát triển kinh tế, NLĐ có quyền lựa chọn và có nhiều sự lựa chọn môi trường làm việc tốt cho mình. Chính thực tế này buộc doanh nghiệp là đối tượng sử dụng lao động không thể thờ ơ trước vấn đề TNXH nếu muốn thu hút được nguồn lao động vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, khuynh hướng “đầu tư có trách nhiệm xã hội” của các nhà đầu tư ngày càng thúc đẩy doanh nghiệp phải thật sự quan tâm đến việc thực hiện TNXH. TNXH của doanh nghiệp đối với NLĐ thể hiện qua cách thức ứng xử trong mối quan hệ của doanh nghiệp đối với NLĐ – một đối tượng hữu quan đặc biệt, vừa là một bộ phận không thể tách rời của doanh nghiệp, vừa là một lực lượng thành viên quan trọng của xã hội, vì chất lượng cuộc sống của NLĐ thể hiện mức độ phát triển của xã hội.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2011 lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của nước ta là 51,39 triệu người, trong đó lao động nam chiếm 51,6%; lao động nữ chiếm 48,4%. Trong đó, cơ cấu lao động ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm là 48,0%; khu vực công nghiệp và xây dựng là 22,4%; khu vực dịch vụ là 29,6%. [17]. Lực lượng lao động của Việt Nam rất dồi dào và được đánh giá cao về chất lượng trong những năm gần đây. Với hơn 50% lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, đây là một lực lượng lao động hùng hậu sẽ mang đóng vai trò quan trọng trọng việc phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trong khi những doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH đối với NLĐ điển hình là các doanh nghiệp đạt giải thưởng Trách nhiệm xã hội (CSR Award) năm 2009 như: Công ty Cổ phần Đồng Tiến (giải nhất trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường), Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Y Tế Domesco (giải nhất trong việc thực hiện trách nhiệm đối với NLĐ), Công ty cổ phẩn xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình, Tập đoàn Sanofi-Aventis Việt Nam,…[1] thì vẫn còn có những doanh nghiệp đã quên đi TNXH của mình đặc biệt là trách nhiệm với NLĐ dẫn đến có nhiều bất cập về bình đẳng giới, điều kiện an toàn lao động, chế độ đãi ngộ. Một trong những minh chứng cho thấy tình trạng báo động về thực trạng thực hiện TNXH của các doanh nghiệp Việt Nam đối với NLĐ đó là mâu thuẫn giữa doanh nghiệp và NLĐ thể hiện qua sự tăng lên nhanh chóng của số vụ đình công trong thời gian vừa qua. Điều này biểu hiện một sự bế tắc trong quan hệ lao động, nhất là khi có sự xung đột về quyền và lợi ích giữa NLĐ và người sử dụng lao động mà không được giải quyết kịp thời. Năm 2009 số vụ đình công là 218 vụ, năm 2010 số vụ đình công tăng lên 422 vụ, đặc biệt vào năm 2011 con số này tăng gấp ba lần, tổng cộng có 978 vụ. Như vậy, trong năm 2011 trung bình mỗi ngày có 2,7 vụ đình công xảy ra [6]. Như vậy, thực trạng thực hiện TNXH của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Trong khuôn khổ bài viết này, nhóm tác giả sẽ phân tích tình hình thực hiện TNXH của doanh nghiệp Việt Nam đối với NLĐ trên ba phương diện về bình đẳng giới, an toàn lao động và chế độ đãi ngộ.

2.1. Bình đẳng giới

Với tỷ lệ lao động nữ chiếm gần 50% và lao động nữ đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong lực lượng lao động nói riêng và sự phát triển của doanh nghiệp nói chung [17]. Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, vị thế và tầm quan trọng của người phụ nữ trong doanh nghiệp ngày càng được nâng cao. Thực hiện quyền bình đẳng giới trong lao động là một mục tiêu chiến lược lâu dài, là đòn bẩy để nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển nguồn lực con người của doanh nghiệp.

Hiện nay, nước ta đã có khung pháp lý tương đối đồng bộ và toàn diện điều chỉnh về bình đẳng giới, thể hiện qua các văn bản pháp luật đã được ban hành như Bộ luật Lao động, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Nghị định số 55/2009/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24 tháng 12 năm 2010 (Quyết định số 2351/QĐ-TTg). Đây là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện vấn đề bình đẳng giới đối với NLĐ [7].

Hiện nay, cùng với sự giám sát và hỗ trợ của tổ chức Công đoàn, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện những chính sách thiết thực về bình đẳng giới, thông qua các chính sách về tuyển dụng, đào tạo, cơ hội thăng tiến, học tập và phát triển nghề nghiệp… Một trong những doanh nghiệp điển hình là tập đoàn Việt Á. Công ty có các chính sách minh bạch về chế độ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, chế độ quan tâm khi mang thai, khuyến khích lao động nữ tham gia công tác chính trị, xã hội [15]

Tuy nhiên, trên thực tế tình hình bình đẳng giới trong doanh nghiệp vẫn tồn tại nhiều bất cập. Phần lớn, phụ nữ tập trung ở các công việc phổ thông với mức lương thấp, đặc biệt trong các khu vực tư nhân. Biểu hiện là nhiều doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động dài hạn đối với lao động nữ, hoặc khi lao động nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng mà hết hạn hợp đồng thì doanh nghiệp không giao kết hợp đồng tiếp. Điều này trái với quy định về sử dụng lao động quy định trong Bộ Luật Lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với NLĐ nữ có thai, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (theo quy định tại Khoản 3, Điều 39 và Khoản 3 Điều 111 Bộ luật lao động) [12]. Về mức lương của lao động nữ làm việc trong các ngành sử dụng nhiều lao đông nữ như dệt may, da giày thường thấp dưới 2 triệu đồng/tháng thấp hơn tiền lương bình quân của NLĐ (Tiền lương bình quân của NLĐ năm 2011 là 3,84 triệu đồng/người/tháng). Biểu đồ dưới đây sẽ thể hiện mức lương bình quân của lao động trong một số ngành. Dựa vào biểu đổ ta có thể thấy rõ được sự phân hóa rõ rệt về mức lương bình quân của lao động trong các ngành. Mức lương bình quân tron ngành da giày, dệt may và thủy sản thấp hơn rất nhiều so với các ngành khác. Đồng thời, cường độ công việc ở những ngành nghề này khá cao, việc trả lương chưa thực sự tương xứng, môi trường làm việc không an toàn nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp cao.

 

Biểu đồ 1. Mức lương bình quân của lao động trong một số ngành

Nguồn: [14]

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của NLĐ đặc biệt là lao động nữ dẫn đến sự suy giảm về sức khỏe, tinh thần và nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp (BNN) tăng cao. Các doanh nghiệp sản xuất chủ yếu máy móc được nhập từ nước ngoài mà chủ yếu là Châu Âu, Châu Mỹ nên kích thước không phù hợp với tầm vóc người Việt Nam nên làm tăng gánh nặng thể lực cho lao động nữ và tác động xấu đến sức khỏe.

2.2. An toàn lao động

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, từ 2006 – 2010, trung bình mỗi năm nước ta xảy ra gần 6.000 vụ tai nạn lao động (TNLĐ), 506 vụ TNLĐ chết người làm 570 người chết. Tuy nhiên, còn nhiều vụ bị che dấu, không khai báo nên số liệu trên thấp hơn nhiều so với thực tế [3]. Đặc biệt riêng trong năm 2011 trên toàn quốc đã xảy ra 5.896 vụ TNLĐ làm 6.154 người bị nạn, trong đó, số vụ TNLĐ chết người: 504 vụ, số người chết: 574 người, số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 90 vụ; Số người bị thương nặng: 1.314 người; Nạn nhân là lao động nữ: 1.363 người. Các địa phương để xảy ra nhiều vụ tai nạn chết người nhất là TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hà Nội, Đồng Nai, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Sơn La và Thái Nguyên (Phụ lục 1). Đáng chú ý là một số vụ TNLĐ nghiêm trọng như: vụ TNLĐ do sạt lở đá tại mỏ đá Lèn Cờ, xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An làm 18 người bị đá đè chết và 6 người bị thương vào ngày 1/4/2011; xảy ra vụ TNLĐ do cháy tại xưởng may tư nhân của Bùi Thị Hiên nhằm trên địa bàn thôn Đại Hoàng 2, xã Tân Dân, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng làm 13 công nhân bị thiệt mạng, 25 người bị thương nặng vào ngày 29/7/2011, vụ TNLĐ do chập điện hệ thống van xả cát tại nhà máy thủy điện Suối sập I, Sơn La làm 08 công nhân thiệt mạng xảy ra vào17/12/2011.

TNLĐ xảy ra ở những ngành nghề lao động giản đơn như: khai thác mỏ, xây dựng, thợ gia công kim loại, thợ cơ khí, thợ vận hành máy, thiết bị. (khai thác mỏ, xây dựng, công nghiệp, chiếm 16,2%; khai thác và xây dựng chiếm tỷ lệ 11,8%; gia công kim loại cơ khí, vận hành máy…) với những yếu tố chấn thương, gây chết người có tỷ lệ cao là rơi ngã, điện giật hoặc bị vật rơi, vùi dập… Nguyên nhân của các vụ TNLĐ đến từ cả hai phía doanh nghiệp và NLĐ. Doanh nghiệp không quan tâm đến việc huấn luyện về an toàn lao động cho NLĐ; Không có quy trình, biện pháp an toàn lao động, tổ chức lao động kém, thiết bị không an toàn, không đầu tư, trang bị phương tiện cho NLĐ,… (Phụ lục 2). Nguyên nhân còn lại là do NLĐ chưa có ý thức tự giác chấp hành các quy định về an toàn lao động [5].

Không chỉ tại các công trình xây dựng lớn, các nhà máy sản xuất lớn, ngay cả hoạt động kinh doanh tại các làng nghề cũng xảy ra mức TNLĐ đáng lo ngại. Việc lao động tại các làng nghề với quy mô nhỏ dưới hình thức cơ sở sản xuất, các chủ cơ sở, chủ doanh nghiệp vô tình “quên” đi trách nhiệm đối với NLĐ trong việc trang bị phương tiện bảo hộ lao động, đầu tư máy móc thiết bị có độ an toàn cao, hay thực hiện công việc ký hợp đồng lao động, đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho NLĐ. Do đó, NLĐ thường xuyên phải làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại, lại không được trang bị và tuân thủ các quy trình về an toàn vệ sinh lao động, dẫn đến tình trạng TNLĐ và bệnh nghề nghiệp diễn ra tại các làng nghề ngày càng nhiều hơn. Theo một khảo sát của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, khoảng 31% số lao động tại các làng nghề bị mắc bệnh liên quan đến nghề nghiệp, trong đó chủ yếu là các bệnh về đường hô hấp (32,6%), bệnh về mắt (29,7%), bệnh điếc tiếng ồn (11,3%), bệnh tim mạch (18%)…

Ví dụ ở làng nghề mộc Cúc Bồ, xã Kiến Quốc (Ninh Giang – Hải Phòng) hiện có tới hàng chục người bị máy cưa “ăn” mất đốt tay, ngón tay. Hay tại làng nghề mộc Phương Độ, xã Hưng Thịnh (Bình Giang) có tớ 90% thợ mộc đã từng bị máy bào lột da, vẹt ngón tay [18]. Bên cạnh tình trạng đáng báo động về TNLĐ thì tình trạng BNN cũng đang đáng báo động mà một trong những nguyên nhân là do sự thờ ơ và vô trách nhiệm của các doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, năm 2011 có 4.480 cơ sở sản xuất tại các tỉnh, ngành tiến hành khám sức khỏe định kỳ cho 766.217 người lao động. Trong đó, số công nhân lao động có sức khỏe yếu chiếm 12,9% (tăng 4,5%). Chỉ có 1.800 cơ sở tại 20 tỉnh, ngành tiến hành khám 18/28 BNN với số lao động được khám là 60.548 người (trong số hơn 1,5 triệu lao động). Qua quá trình khám đã phát hiện 3.557 trường hợp được chẩn đoán nghi mắc BNN (chiếm 5,9%). Tính đến hết năm 2011, đã phát hiện 27.246 người mắc BNN, trong đó 74,4% mắc bệnh bụi phổi silic và 16% bị điếc do tiếng ồn [4]. Việc người lao động bị mắc các bệnh nghề nghiệp và có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp cao là do môi trường làm việc không đảm bảo như cường độ tiếng ồn quá to, môi trường làm việc quá nóng, bụi bặm hay do đặc thù của công việc phải đứng quá nhiều hay phải ngồi quá nhiều. Một lý do khác là do các doanh nghiệp đã làm ngơ trước sức khỏe của người lao động. Theo quy định, mỗi năm doanh nghiệp sẽ tiến hành tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động nhưng vì vấn đề chi phí nên một số doanh nghiệp đã làm ngơ và chủ động “quên” công tác này [19]. Với thực trạng như trên, vấn đề an toàn lao động đang trở nên bức thiết và đáng báo động và các doanh nghiệp phải quan tâm đúng mức nếu muốn phát triển một cách bền vững trong xu thế phát triển kinh tế hiện nay.

2.3. Đãi ngộ

Chế độ đãi ngộ được hiểu theo nghĩa chung nhất là các chế độ phúc lợi hữu hình và vô hình, bao gồm lợi ích vật chất trực tiếp như lương, thưởng, trợ cấp, lợi ích vật chất gián tiếp như xe, bảo hiểm, nghỉ phép hay như sự hài lòng về mặt tâm lý của người lao động trước cơ hội đào tạo và phát triển nghề nghiệp, môi trường làm việc tốt, thân thiện để phát huy năng lực cá nhân…

Hiện nay, các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam luôn chú trọng đến vấn đề đãi ngộ để nâng cao tính cạnh tranh trong việc thu hút và giữ lại nguồn nhân lực chất lượng cao cho công ty. Unilever, P&G, Intel, Vietcombank, Viettel, Techcombank,… là các doanh nghiệp điển hình cho các chính sách đãi ngộ chất lượng dành cho NLĐ.

Tại công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình thì an toàn sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu. Công ty luôn áp dụng mọi biện pháp thích hợp để loại trừ hoặc giảm thiểu rủi ro TNLĐ dù là một công ty chuyên xây dựng các công trình. Cung cấp các nguồn lực, hệ thống, các quy trình cần thiết để kiểm soát các yếu tố có thể gây tai nạn, BNN và duy trì mức rủi ro thấp nhất về an toàn sức khỏe; Bảo đảm kế hoạch ứng cứu khẩn cấp hiệu quả. Kiểm tra thường xuyên định kỳ, công tác quản lý và công tác an toàn sức khỏe không ngừng nâng cao môi trường làm việc của cán bộ công nhân viên. Bên cạnh đó, công ty luôn quan tâm chính sách lương thưởng công bằng; hàng năm Công ty đều trích ra một khoản kinh phí không nhỏ hơn 3% tổng quỹ lương cho công tác đào tạo, hỗ trợ cho CBCNV tham gia các khóa học về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ và tham quan, huấn luyện ở nước ngoài [8]. Một điển hình khác là Ngân hàng TMCP Techcombank đã có chính sách và kế hoạch sử dụng lao động hiệu quả và đóng góp xã hội. Tốc độ tăng thu nhập bình quân của NLĐ đạt 124%, kết quả nộp ngân sách tính theo lao động đạt 234%, phúc lợi xã hội và đóng góp cho cộng động bình quân một lao động đạt 203% và mức hoàn thành đóng bảo hiểm xã hội đạt 100% [10].

Bên cạnh những điển hình tốt, vẫn còn một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp đang cố tình phớt lờ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của mình, đặc biệt là vấn đề đãi ngộ cho NLĐ. Một trong những biểu hiện đầu tiên đó là đãi ngộ về lương bổng. Chính sách lương bổng không đảm bảo được cuộc sống của NLĐ. Việc trả lương không đúng thời hạn, và các quy định của pháp luật. Nguyên nhân chủ yếu do chủ doanh nghiệp vi phạm pháp luật cũng như quyền thành lập công đoàn, không bảo đảm cam kết, tiền lương trả quá thấp chỉ bảo đảm khoảng 70% nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ… Vấn đề thứ hai là vấn đề bữa ăn và nghỉ trưa cho NLĐ. Phần lớn, các doanh nghiệp không phục vụ bữa ăn cho NLĐ mà NLĐ sẽ tự chủ về bữa ăn và việc nghỉ trưa. Đối với NLĐ thuộc giới văn phòng thì thời gian nghỉ trưa giao động khoảng 1 – 1,5 giờ đồng hồ. Với khoảng thời gian này, NLĐ sẽ phải đi ăn trưa tại các quán cơm chứ khó có thể tự chuẩn bị bữa ăn. Giá cơm trưa của giới văn phòng giao động từ 20.000đ -  35.000đ tùy theo chất lượng bữa ăn. Tuy nhiên, nhìn chung không đảm bảo về yêu cầu dinh dưỡng và vệ sinh. Còn đối với NLĐ ở các khu chế xuất, khu công nghiệp, các xưởng sản xuất, chủ doanh nghiệp sẽ sử dụng loại hình cơm công nghiệp do các cơ sở cung cấp.  Với giá lương thực, thực phẩm tăng vọt nhưng suất ăn của đa số các doanh nghiệp chỉ dao động từ 10.000 – 12.000 đồng thậm chí có nơi chỉ có 8.000đ. Với mức giá này khó có thể đảm bảo chất dinh dưỡng để tái tạo năng lượng cho NLĐ, chưa kể nguy cơ ngộ độc luôn rình rập. Riêng trên địa bàn Tp. HCM hiện có 13 khu chế xuất, khu công nghiệp với 1.036 doanh nghiệp sử dụng 256.000 lao động. Đa phần, các doanh nghiệp sử dụng loại hình suất ăn công nghiệp để phục vụ bữa ăn cho công nhân. Theo thống kê của Ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp, trong 7 tháng đầu năm 2011, trên địa bàn thành phố đã liên tiếp xảy ra 70 cuộc đình công của công nhân, trong đó có gần 60 cuộc đòi tăng lương và hơn 10 cuộc là do chất lượng bữa ăn của NLĐ quá thấp [2].

Bên cạnh các doanh nghiệp quy mô lớn, vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên phương diện đãi ngộ NLĐ cũng là một vấn đề cần quan tâm. Có thể kể đến là trường hợp các DNNVV trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy là những doanh nghiệp nhỏ, số lượng lao động trong mỗi doanh nghiệp còn hạn chế, nhưng các DNNVV đã tạo ra 26% tổng giá trị GDP của cả nước và khoảng 3 triệu việc làm. Tuy nhiên, vấn đề trách nhiệm với NLĐ chưa được thực hiện thường xuyên và đúng mức, dễ thấy nhất là tỷ lệ mua bảo hiểm xã hội cho NLĐ còn rất thấp.

Bên cạnh những thực trạng nêu trên, vấn đề chế độ đãi ngộ về đào tạo, nâng cao tay nghề, thăng tiến và chăm lo đời sống tinh thần cho NLĐ vẫn còn bị nhiều doanh nghiệp bỏ ngõ.

Kết luận

Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế hiện nay, việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững sẽ là một xu thế tất yếu. Với một nguồn lao động có chất lượng cao sẽ quyết định năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm. TNXH của doanh nghiệp đối với NLĐ được thể hiện ở ba phương diện bình đẳng giới, an toàn lao động và chế độ đãi ngộ. Nhìn chung, trong những năm gần đây một số doanh nghiệp đã ý thức và quan tâm đến việc thực hiện TNXH đối với NLĐ bằng những việc làm cụ thể. Nhưng bên cạnh đó, thực trạng thực hiện về vấn đề này ở một bộ phận lớn các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn nhiều bất cập. Trong khuôn khổ của bài viết, nhóm tác giả đưa ra một bức tranh khái quát không mấy tươi sáng về thực trạng thực hiện TNXH của doanh nghiệp đối với NLĐ hiện nay. Theo tầm nhìn sâu và rộng, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì không chỉ phải thực hiện TNXH đối với NLĐ mà còn phải thực hiện TNXH về mặt kinh tế và môi trường. Muốn thực hiện được điều này thì Nhà nước, các cơ quan chức năng và bản thân doanh nghiệp cần phải có sự đầu tư và đúng mức đối với vấn đề này.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A – Tài liệu tiếng Việt

1.      Báo Diễn đàn Doanh nghiệp (20/3/2012), Trao giải thưởng Trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp năm 2009, http://dddn.com.vn/20100116113335198cat119/trao-giai-thuong-trach-nhiem-xa-hoi-doanh-nghiep-nam-2009.htm

  1. Báo điện tử của TW Hội Khuyến học Việt Nam (18/3/2012), Chất lượng bữa ăn quá thấp, công nhân “ôm” nỗi lo ngộ độc, http://dantri.com.vn/c21/s20-509941/chat-luong-bua-an-qua-thap-cong-nhan-om-noi-lo-ngo-doc.htm
  2. Báo Lao động (18/3/2012), 6.000 vụ tai nạn lao động mỗi năm, http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/6000-vu-tai-nan-lao-dong-moi-nam/28203
  3. Báo Lao động (ngày 18/3/2012), Làng nghề càng phát triển, tai nạn lao động càng tăng, http://laodong.com.vn/Home/Lang-nghe-cang-phat-trien-tai-nan-lao-dong-cang-tang/20098/152535.laodong
  4. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2012), Thông báo tình hình tai nạn lao động năm năm 2011, ban hành ngày 10 tháng 02 năm 2012.
  5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã Hội (2012), Tổng kết tình hình năm 2011 và triển khai nhiệm vụ năm 2012.
  6. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Quyết định về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020, ban hành 24 tháng 12 năm 2010.
  7. Công ty cổ phần Xây dựng và Kinh doanh địa ốc Hòa Bình (18/3/2012), Trách nhiệm với quyền lợi người lao động, http://hoabinhcorporation.com.vn/site/index.php?route=module/contact
  8. Michel Capron, Francoise Quairel-Lanoizelée (2009), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tri thức (Người dịch: Phạm Như Hồ, Lê Minh Tiến), Hà Nội.

10. Ngân hàng Thương mại cổ phần Techcombank (18/3/2012), Nhận Cúp Vàng “Vì sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững”, https://www.techcombank.com.vn/Desktop.aspx/Tin–tuc/Tin-Techcombank/Nhan_Cup_Vang_Vi_su_tien_bo_xa_hoi_va_phat_trien_ben_vung/

11. Nguyễn Mạnh Quân (2007), Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

12. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Bộ luật Lao động, ban hành ngày 23 tháng 6 năm 1994.

13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11, ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006.

14. Tạp chí Kinh tế và Dự báo (19/3/2012), Ngành dệt may đối diện nhiều khó khăn, http://kinhtevadubao.vn/p0c282n11128/nganh-det-may-doi-dien-nhieu-kho-khan.htm

15. Tập đoàn Việt Á (20/3/2012), Văn hóa Việt Á, http://www.vieta.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=90&Itemid=124

16. Lê Minh Tiến (11/3/2008), Tiêu chí đánh giá doanh nghiệp phát triển bền vững, Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

17. Tổng Cục Thống kê (20/3/2012), Tình hình kinh tế - xã hội 12 tháng năm 2011, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=12129

18. Trung tâm Đào tạo – Khu công nghệ cao TP.HCM, Bức xúc tai nạn lao động ở các làng nghề mộc, http://www.proskills.vn/vietnamese/tin-tuc/436.html

19. Website Vneconomy (18/3/2012), Lao động mắc bệnh nghề nghiệp: thiệt đơn, thiệt kép, http://vneconomy.vn/20091203111856882P0C5/lao-dong-mac-benh-nghe-nghiep-thiet-don-thiet-kep.htm

B – Tài liệu tiếng Anh

19. Howard R. Bowen (1953), Social Responsibilities of the Businessman, Harper & Row, New York.

20. International Institute for Sustainable Development (1992), Business strategies for sustainable development, International Institute for Sustainable Development, Deloitte & Touche and the World Business Council for Sustainable Development.

21. The World Business Council for Sustainable Development (1998), WBCSD Stakeholder Dialogue on CSR, The Netherlands.


PHỤ LỤC

Phụ lục 1: 10 Địa phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết người nhất năm 2011

TT

Địa phương

Số vụ

Số vụ chết người

Số người bị nạn

Số người chết

Số người bị thương nặng

1

Tp. Hồ Chí Minh

1056

81

1080

82

90

2

Bình Dương

370

40

370

40

13

3

Hà Nội

123

34

124

35

76

4

Đồng Nai

1453

24

1461

25

134

5

Quảng Ninh

484

22

493

25

221

6

Hải Phòng

227

15

282

30

44

7

Đà Nẵng

68

15

88

15

37

8

Hà Tĩnh

38

15

49

15

33

9

Sơn La

21

14

30

22

8

10

Thái Nguyên

90

13

98

16

26

Phụ lục 2: Những nguyên nhân để xảy ra TNLĐ do người sử dụng lao động năm 2011

TT

Nguyên nhân

Số vụ

 

Tỷ lệ/ Tổng số vụ báo cáo

Năm 2010

1

Không huấn luyện về an toàn lao động cho NLĐ

460

7,8%

5,26%

2

Không có quy trình, biện pháp an toàn lao động

206

3,49%

4,39%

3

Do tổ chức lao động

199

3,37%

2,22%

4

Thiết bị không đảm bảo an toàn

186

3,15%

6,8%

5

Không có thiết bị an toàn

137

2,32%

2,83%

6

Không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho NLĐ

82

1,39%

2,16%

Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2012), Thông báo tình hình tai nạn lao động năm năm 2011, ban hành ngày 10 tháng 02 năm 2012

About these ads

TrackBack URI

Blog at WordPress.com. | The Pool Theme.
Entriesphản hồi feeds.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: