TẠO ĐỘNG LỰC NGHIÊN CỨU BẰNG CÁCH TÌM ĐẦU RA CHO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

Bài viết dựa trên Học thuyết kỳ vọng của V.Room (1964).
12507148_1026492980727370_5113310025346185042_n

Đôi nét về Học thuyết kỳ vọng: Nhà tâm lý học Victor H. Vroom cho rằng con người sẽ được thúc đẩy trong việc thực hiện những công việc để đạt tới mục tiêu nếu họ tin vào giá trị của mục tiêu đó, và họ có thể thấy được rằng những công việc họ làm sẽ giúp họ đạt được mục tiêu. Lý thuyết của Vroom khẳng định rằng động cơ thúc đẩy con người làm việc sẽ được xác định bới giá trị mà họ đặt vào kết quả cố gắng của họ, được nhân thêm bởi niềm tin mà họ có. Nói cách khác, Vroom chỉ ra rằng động cơ thúc đẩy là sản phẩm của giá trị mong đợi mà con người đặt vào mục tiêu và những cơ hội mà họ thấy sẽ hoàn thành được những mục tiêu đó. Thuyết của Vroom có thể được phát biểu như sau:
Động cơ thúc đẩy = Mức ham mê x Niềm hy vọng
Trong đó:
Mức ham mê là cường độ ưu ái của một người dành cho kết quả
Niềm hy vọng là xác suất mà một hoạt động riêng lẻ sẽ dẫn tới kết quả mong muốn.
Học thuyết kì vọng cho rằng động lực được xây dựng dựa trên sự tin tưởng của con người về mối quan hệ giữa những nỗ lực họ đưa ra tại nơi làm việc, hiệu suất làm việc, từ đó dẫn đến nỗ lực và những phần thưởng họ nhận được từ sự nỗ lực và hiệu suất ấy.
Quay trở về với hoạt động NCKH của sinh viên, đây là một hoạt động chỉ thú vị với một bộ phận sinh viên nhất định. Đồng thời, đây là một hoạt động kéo dài và đòi hỏi cần phải có động lực và duy trì nguồn động lực trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Bài viết xin chia sẻ về việc tạo đồng lực bằng cách tìm đầu ra cho sản phẩm của hoạt động NCKH của sinh viên. Bằng cách tìm đầu ra cho sản phẩm, với những kết quả là những phần thưởng (khái niệm phần thưởng ở đây là khái niệm trong học thuyết đề cập bên trên) hứa hẹn, sẽ giúp sinh viên có thể duy trì, tăng cường niềm hy vọng, mức đam mê, từ đó tác động đến động lực của việc thực hiện nghiên cứu. Xin được chia sẻ một số kỷ niệm, thành quả và kinh nghiệm cá nhân trong vấn đề này.
Từ trường hợp của cá nhân, sau khi hoàn thành đề tài NCKH cùng với thành viên trong nhóm, cả hai thành viên tưởng chừng dừng lại ở bước nộp đề tài. Nhưng kéo theo sau đó là hàng loạt các hoạt động kéo theo và dĩ nhiên cả các phần thưởng cả vật chất lẫn tinh thần. Nhóm được viết bài đề đăng hội thảo NCKH cấp trường, sau đó được chọn báo cáo tại Hội nghị. Chưa dừng lại ở đó, đề tài được chọn gửi dự thi cấp bộ và hai thành viên khăn gói ra nhận giải tại Hà Nội. Sau đó, đề tài được trao giải B về phương pháp nghiên cứu trong một giải thưởng khác. Gần nửa năm sau, nhóm tác giả được mời báo cáo tại Hội nghị Khoa học sinh viên Tp. HCM.
Năm 2012, tập tành hướng dẫn NCKH cho sinh viên. Bất ngờ với thành công của đề tài về Hoạt động quảng cáo qua các cuộc thi trực tuyến. Đề tài đạt giải Ba cấp trường, và tiến đến với cuộc thi Olympia dành cho sinh viên Đại học. Đề tài may mắn đạt giải nhất Bán kết khu vực với kinh phí phát triển đề tài là 30 triệu đồng. Thầy và trò bắt tay vào nghiên cứu trên diện rộng và bắt đầu công cuộc làm phiền mọi người. Tại đêm chung kết toàn quốc, đề tài đạt giải nhì với giải thưởng cơ man là điện thoại, ti vi. Các thành viên còn có dịp du ngoạn Thủ Đô, tiến thẳng ra Vịnh Hạ Long và lên tận Sapa. Sau đó, một thành viên của nhóm đạt học bổng của một Ngân hàng lớn. Một thành viên khác đạt học bổng của một Quỹ quốc tế đi du học thạc sỹ. Và dĩ nhiên, giải thưởng này đóng góp một dòng xinh xắn trong CV của các bạn.
Năm 2013, Thái Vũ cặm cụi với đề tài về du lịch đảo Lý Sơn, đây là một trong những học trò mình hài lòng nhất về thái độ làm việc nghiêm túc dù làm việc độc lập. Cậu luôn cam kết về thời gian, và công việc. Một mình cặm cụi ra tận Lý Sơn làm khảo sát. Đề tài đạt giải Khuyến khích cấp trường, hai thầy trò tóm tắt đăng kỷ yếu. Rồi mạnh dạn gửi một tạp chí nho nhỏ. Phần thưởng là một bài báo được đăng ngay dịp Tết Nguyên Đán. Chưa dừng lại ở đó, cậu tiến đến cuộc thi Thử Tài Kinh Doanh. Chậm rãi và từ tốn, cậu vượt qua 4.000 đối thủ và về đích trong sự hài lòng của mọi người với một đề tài về ẩm thực, du lịch. Sau khi tốt nghiệp, Thái Vũ đi làm nghiên cứu thị trường của một công ty nước ngoài. Tin rằng, kiến thức từ cuộc thi NCKH cũng sẽ giúp em phần nào trong công việc hiện tại.
Năm 2014, đây có lẽ là năm thành công của cả thầy và trò, với 04 cô gái về đề tài NƯỚC. Hơn một năm với nước và nước, các thể loại tiết kiệm nước.
Mấy thầy trò lặn lội từ Sài Gòn, tiến đến Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học các trường Kinh tế và Quản trị kinh doanh toàn quốc tại Hải Phòng. Bài báo cáo tại Hội nghị được chọn là 01 trong 03 báo cáo xuất sắc nhất. Nhưng hơn hết, sau chuyến đi đó, phần thưởng xuất sắc đó chính là sự tự hào của phụ huynh các bạn. Phụ huynh của sinh viên lặn lội từ Quảng Nam ra Hải Phòng đồng hành cùng thầy trò.
Thầy trò lại khăn gói quả mướp ra Hà Nội tham dự giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam”. Chưa kịp nghỉ ngơi, thì hôm sau đã phải bảo vệ tại Hội đồng Eureka Tp. HCM với giải nhì ngọt ngào. Mấy tháng sau, bài báo của thầy trò được đăng trên Tạp chí Khoa học chuyên ngành. Kết quả ngọt ngào cho một quá trình hơn 15 tháng sống với các thể loại NƯỚC. Các em sau đó còn đạt được một số danh hiệu và học bổng. Dĩ nhiên, thành quả của các bạn là hoàn toàn xứng đáng với thái độ cầu thị và trách nhiệm của 04 cô gái nước.
Năm 2015, tạm chia tay với nước, thầy và trò đến với một chủ đề “hot” hơn về khởi nghiệp. 03 cô gái khởi nghiệp với giải nhì cấp trường, các em có cơ hội được ra thăm cơ sở Hà Nội và dĩ nhiên trải nghiệm, thăm thú Thủ Đô. Về rồi, thầy trò lại cặm cụi sửa bài, viết bài tham dự Hội nghị Khoa học Kinh tế trẻ Tp. HCM. Vượt qua hơn 70 đề tài tham gia đến từ nhiều trường Đại học phía Nam, các bạn đã về nhì với kết quả thật trọn vẹn. Bài viết được chọn đăng trên tạp chí Khoa học Công nghệ. Thầy và trò được vào một trong những trung tâm thương mại lớn nhất Sài Thành để giải ngân tiền thưởng.
Năm 2015 còn đánh giấu với nhóm đề tài về tình nguyện. Các bạn đã mạnh dạn nghiên cứu một đề tài hơi trái ngành nhưng đã đạt giải 03 cấp trường. Sau đó, nhóm đạt giải 03 cuộc thi Eureka. Giờ nghe đâu đang chuẩn bị báo cáo tại Diễn đàn Sinh viên khoa học Quốc tế – ISSF.
Dĩ nhiên còn một số nhóm sinh viên đáng yêu khác, nhưng thầy xin phép chỉ nêu vài đại điện ở đây để minh chứng cho việc khi xác định được đúng yếu tố tác động đến động lực của việc nghiên cứu, thì việc tìm đầu ra cho các sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên là hết sức quan trọng. Với các sản phẩm đầy hứa hẹn và dĩ nhiên thực tế (Cái này lại dựa vào SMART) thì các bạn sẽ thấy động lực để vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu.
Một số đặc điểm chung của các bạn sinh viên trong các tấm hình trên đó là sự cầu thị, trách nhiệm, tính cam kết cao về giờ giấc và ngoan ngoãn, chịu khó nghe thầy la mắng và chấp nhận đợi thầy nếu thầy có bị họp đột xuất.
Không thể bỏ qua vai trò của giáo viên hướng dẫn trong vấn đề này. Ngay từ đầu, giáo viên cần phân tích cho các bạn về những “phần thưởng” mà các bạn có thể sẽ đạt được, nhấn mạnh vào các yếu tố phi vật chất như kiến thức, kỹ năng, “academic background”, cơ hội trải nghiệm, học hỏi từ những môi trường mới, sự tự hào của gia đình,… Giáo viên nên cung cấp các thông tin, tìm kiếm các cơ hội phù hợp, vừa sức với sinh viên, phân tích cơ hội để định hướng và giới thiệu cho các bạn sinh viên. Bên cạnh đó, giáo viên hướng dẫn sẽ động viên (dĩ nhiên bằng nhiều hình thức khác nhau na ná “động viên”) liên tục để đảm bảo tiến độ và động lực của nhóm. Về phần thông tin và đầu ra cho các sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên, đặc biệt là khối ngành kinh tế với các sản phẩm hơi trừu tượng, vô hình, giáo viên cần phải đầu tư thời gian tìm hiểu, theo dõi thông tin từ các nguồn khác nhau như các hội thảo, các cuộc thi, các website về nghiên cứu khoa học của các trường Đại học, viện nghiên cứu, Trung tâm khoa học, các tạp chí chuyên ngành, hoặc các cuộc thi của các tổ chức, doanh nghiệp,… Từ đó, xác định từng môi trường phù hợp với từng đề tài cụ thể để định hướng và gợi ý các em tham gia. Không nên chỉ giới hạn đề tài NCKH trong khuôn khổ của một hoạt động cấp khoa, cuộc thi cấp trường.
Vẫn nhớ hồi cấp ba cô giáo có nói thi học sinh giỏi như một sân chơi. Chỉ đến để vui và nhận thưởng (nhắc lại khái niệm thưởng không có nghĩa là phần thưởng), không có người thất bại trong sân chơi đó. Nghiên cứu khoa học cũng thế, vui mà, đúng không các bạn! Dĩ nhiên, vui khi làm việc nghiêm túc và có động lực, động cơ đúng đắn.
Thân.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s